Chùa Keo - Di tích quốc gia đặc biệt, tinh hoa kiến trúc cổ và niềm tự hào văn hóa quê hương Vũ Tiên

Giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi những dòng sông bồi đắp phù sa qua bao thế hệ, Chùa Keo hiện lên với vẻ đẹp cổ kính, mang trong mình chiều sâu lịch sử, giá trị kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và những nét văn hóa tâm linh đã được gìn giữ, trao truyền. Tọa lạc tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, Chùa Keo không chỉ là một công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu mà còn là biểu tượng văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của Nhân dân, là niềm tự hào của quê hương và là di sản quý báu trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa, Chùa Keo được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1962 đến năm 2012 được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Lễ hội Chùa Keo được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Những danh hiệu cao quý ấy không chỉ khẳng định vị thế của di tích trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam mà còn thể hiện sự trân trọng đối với công sức, trí tuệ và tâm huyết của các thế hệ đã dựng xây, gìn giữ ngôi chùa suốt gần bốn thế kỷ qua. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị di sản, đưa Chùa Keo trở thành điểm đến văn hóa, tâm linh giàu sức hấp dẫn, góp phần quảng bá hình ảnh đất và người Vũ Tiên đến với bạn bè, du khách gần xa.


Chùa Keo có tên chữ là Thần Quang Tự, là nơi thờ Phật, Bồ Tát, Đức Thánh Dương Không Lộ và những người có công xây dựng chùa. Theo thần tích và các tư liệu lịch sử được lưu truyền, năm 1061, dưới triều vua Lý Thánh Tông, Thiền sư Dương Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang làm nơi tu hành, thuyết pháp, giảng đạo, hướng con người đến những điều thiện lành và góp phần hộ quốc, an dân. Sau khi Thiền sư viên tịch, năm 1167, vua Lý Anh Tông xuống chiếu đổi tên chùa Nghiêm Quang thành chùa Thần Quang để tưởng nhớ, tri ân công đức của ngài. Tên gọi Thần Quang tự được lưu truyền qua nhiều thế hệ, trở thành dấu ấn lịch sử gắn bó với di tích và truyền thống thờ phụng Đức Thánh Không Lộ của cộng đồng địa phương. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi chùa xưa từng chịu những biến động lớn của thiên nhiên và lịch sử. Năm 1611, một trận đại hồng thủy đã cuốn trôi chùa cũ, khiến cư dân ấp Keo phải di chuyển và hình thành hai cộng đồng ở hai bờ sông Hồng. Từ đó, hai ngôi chùa Keo được dựng lại, một ở khu vực nay thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên và một ở khu vực nay thuộc xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.
Đối với Chùa Keo tại xã Vũ Tiên ngày nay, công cuộc xây dựng lại chùa được tiến hành từ năm 1630. Theo tư liệu, công trình có sự tham gia của 42 hiệp thợ và được hoàn thành vào tháng 11 năm 1632, sau 28 tháng thi công. Từ đây, Chùa Keo bước vào một giai đoạn phát triển mới, trở thành một trong những công trình kiến trúc Phật giáo cổ tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Một trong những giá trị nổi bật làm nên danh tiếng của Chùa Keo là nghệ thuật kiến trúc gỗ cổ truyền đặc sắc, thể hiện trình độ kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân Việt Nam thế kỷ XVII. Chùa Keo hiện gồm 17 tòa, 128 gian, tọa lạc trên tổng diện tích 5,8 ha. Các công trình được bố trí trong một tổng thể hài hòa, kết nối giữa khu vực thờ Phật, khu vực thờ Đức Thánh và các hạng mục phụ trợ. Tổng thể kiến trúc mang phong cách “nội công, ngoại quốc”, được bài trí theo lối “tiền Phật, hậu Thánh”. Đây là cách tổ chức không gian đặc trưng, thể hiện sự kết hợp giữa kiến trúc Phật giáo với tín ngưỡng thờ Đức Thánh trong đời sống văn hóa Việt Nam. Từ tam quan ngoại, bước vào không gian chùa là hành trình khám phá từng lớp kiến trúc nối tiếp nhau. Tam quan nội gây ấn tượng bởi kết cấu gỗ và hệ thống cửa được chạm khắc tinh xảo. Khu thờ Phật gồm các tòa chùa Hộ, Ống Muống và Phật điện, lưu giữ hệ thống tượng thờ, đồ thờ cùng nhiều hiện vật có giá trị. Cùng với đó là các cỗ ngai, cỗ khám sơn son thếp vàng, kiệu rước, hoành phi, câu đối, bia đá và các họa tiết trang trí truyền thống. Khu thờ Đức Thánh Không Lộ gồm các tòa Giá Roi, Thiêu Hương, Phục Quốc và Hậu cung, tạo thành một không gian thờ tự trang nghiêm. Trong cung cấm có tượng gỗ trầm được nhân dân tôn kính, gắn với truyền thuyết về Đức Thánh Không Lộ. Trong toàn bộ quần thể di tích, gác chuông là công trình nổi bật, tạo nên dấu ấn riêng cho Chùa Keo. Với chiều cao 11,04 m, công trình có kết cấu gỗ nhiều tầng, hệ mái chồng diêm và các đầu đao cong vút, tạo dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng mà vẫn vững chãi. Gác chuông gồm ba tầng, kết cấu chồng lên nhau, tạo nên hình dáng gợi liên tưởng đến một đóa sen lớn vươn lên giữa không gian cổ kính. Đây là một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất khi nhắc đến Chùa Keo, góp phần làm nên giá trị đặc sắc của di tích trong nền kiến trúc gỗ cổ Việt Nam. Bên cạnh giá trị kiến trúc tổng thể, Chùa Keo còn lưu giữ nhiều cổ vật và hiện vật có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử, mỹ thuật và tín ngưỡng. Tiêu biểu trong số đó là hương án Chùa Keo, một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 25/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Việc hương án Chùa Keo được công nhận là Bảo vật quốc gia khẳng định giá trị nổi bật của hiện vật, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác bảo quản, nghiên cứu, kiểm kê và giới thiệu tới công chúng.


Nếu quần thể kiến trúc là phần di sản hữu hình làm nên diện mạo đặc sắc của Chùa Keo thì lễ hội chính là dòng chảy văn hóa sống động, giúp những giá trị lịch sử và tín ngưỡng tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng. Hằng năm, Chùa Keo tổ chức hai kỳ lễ hội truyền thống: hội Xuân vào ngày mùng 4 tháng Giêng âm lịch và hội Thu vào trung tuần tháng Chín âm lịch. Mỗi kỳ hội có những nét riêng, song đều hướng đến việc tưởng niệm Đức Thánh Không Lộ, thực hành các nghi thức truyền thống và gìn giữ những giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương. Lễ hội mùa Xuân mở đầu năm mới bằng các nghi thức truyền thống và những hoạt động mang đậm sắc thái dân gian. Đây là dịp để Nhân dân bày tỏ lòng thành kính với Phật, Thánh, cầu mong một năm bình an, cuộc sống no ấm, mùa màng thuận lợi. Trong khi đó, lễ hội mùa Thu là kỳ hội chính, mang đậm dấu ấn lịch sử, gắn với cuộc đời và công đức của Thiền sư Dương Không Lộ. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức truyền thống; phần hội có những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian phong phú, tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc. Các nghi thức như lễ khai chỉ, lễ rước Đức Thánh, múa rối chầu Thánh, múa trải cạn, múa ếch vồ cùng những hoạt động diễn xướng dân gian đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của lễ hội. Mỗi nghi thức, mỗi điệu múa và hoạt động đều chứa đựng những ý nghĩa được bồi đắp qua thời gian, thể hiện lòng thành kính với tiền nhân, ước vọng về cuộc sống bình yên và tinh thần đoàn kết của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng. Điều làm nên sức sống của Lễ hội Chùa Keo không chỉ nằm ở sự phong phú của nghi thức và hoạt động, mà còn ở vai trò chủ thể của cộng đồng. Từ việc chuẩn bị nghi lễ, tham gia các hoạt động truyền thống đến bảo vệ cảnh quan, giữ gìn vệ sinh môi trường và đón tiếp du khách, mỗi đóng góp đều thể hiện tình cảm, niềm tự hào và trách nhiệm đối với di sản quê hương.



Tiếp nối truyền thống được gìn giữ qua nhiều thế hệ, Lễ hội Chùa Keo mùa Thu năm 2026 được tổ chức với quy mô cấp tỉnh trong 6 ngày, từ ngày 19 đến ngày 24/10/2026, tức từ ngày mùng 10 đến hết ngày 15 tháng Chín năm Bính Ngọ. Lễ hội diễn ra tại Di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo, xã Vũ Tiên, với nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, thể thao và trò chơi dân gian, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tâm linh của Nhân dân và du khách. Lễ hội năm nay tiếp tục hướng tới mục tiêu giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, phát huy đạo lý uống nước nhớ nguồn và tôn vinh công lao của Đức Thánh Không Lộ cùng các bậc tiền nhân được thờ tại di tích. Đồng thời, đây là dịp giới thiệu sâu rộng những giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật của Chùa Keo, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa, con người Vũ Tiên đến với du khách trong và ngoài tỉnh./.
